Cần bổ sung 22.000 giáo viên để thực hiện đề án đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học
Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2045 đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong hệ thống giáo dục quốc dân, ngành giáo dục Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp thiết: bổ sung khoảng 22.000 giáo viên tiếng Anh cùng với việc nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên hiện có.
Theo dự thảo Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025–2035, tầm nhìn đến năm 2045” do Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng, tiếng Anh không chỉ là một môn học mà sẽ dần trở thành công cụ sử dụng thường xuyên trong dạy học, quản lý và các hoạt động giáo dục.
Mục tiêu dài hạn: Tiếng Anh là năng lực nền tảng của người học Việt Nam
Đề án được xây dựng nhằm cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng và Chính phủ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng.
Theo đó, lộ trình triển khai được chia thành 3 giai đoạn:
2025–2030: Đặt nền móng về thể chế, đội ngũ và chương trình
2030–2040: Mở rộng triển khai, nâng cao chất lượng và tính đồng bộ
2040–2045: Hoàn thiện, phổ cập và sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai
Mỗi giai đoạn đều có bộ tiêu chí đánh giá gồm 7 tiêu chuẩn, áp dụng cho từng cấp học, từ mầm non đến đại học.
Bài toán nhân lực: Thiếu hụt nghiêm trọng giáo viên tiếng Anh
Theo tính toán của Bộ GD-ĐT, để đáp ứng yêu cầu của đề án:
Cần bổ sung khoảng 12.000 giáo viên tiếng Anh mầm non
Cần gần 10.000 giáo viên tiếng Anh tiểu học
Đồng thời bồi dưỡng ít nhất 200.000 giáo viên có khả năng giảng dạy chuyên môn bằng tiếng Anh (CLIL) trước năm 2030
Đề án dự kiến triển khai trên quy mô rất lớn, bao phủ:
Gần 50.000 cơ sở giáo dục
Khoảng 30 triệu học sinh, sinh viên
Gần 1 triệu cán bộ, giáo viên
Đây được xem là một trong những chương trình cải cách giáo dục có quy mô và thời gian thực hiện dài hạn nhất từ trước đến nay.
8 nhóm giải pháp trọng tâm
Để bảo đảm tính khả thi, dự thảo đề án xác định 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn:
Nâng cao nhận thức xã hội về vai trò của tiếng Anh
Hoàn thiện cơ chế, chính sách và thể chế triển khai
Phát triển và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên
Xây dựng chương trình, học liệu và tài nguyên số
Đổi mới công tác thi, kiểm tra và đánh giá
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI) trong dạy – học
Tăng cường hợp tác quốc tế và xã hội hóa giáo dục
Đẩy mạnh phong trào thi đua, khen thưởng và nhân rộng mô hình hiệu quả
Nguồn lực thực hiện đề án đến từ ngân sách nhà nước kết hợp với sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước.
Giáo viên là yếu tố then chốt của thành công
Phát biểu tại phiên họp góp ý cho dự thảo đề án do Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực tổ chức, Phạm Ngọc Thưởng – Thứ trưởng Bộ GD-ĐT – nhấn mạnh: thể chế và đào tạo đội ngũ giáo viên là hai yếu tố then chốt trong toàn bộ hệ giải pháp.

Theo ông, việc đổi mới chương trình đào tạo giáo viên, cùng với chính sách đãi ngộ thỏa đáng, đặc biệt đối với những giáo viên vừa dạy tiếng Anh vừa sử dụng tiếng Anh để giảng dạy các môn khoa học, là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn tới.
Bên cạnh đó, ông cũng đề cao vai trò của công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong dạy – học ngoại ngữ, việc phát động phong trào học tập tiếng Anh toàn xã hội, cũng như học hỏi và nhân rộng các mô hình hiệu quả từ địa phương và cơ sở giáo dục.
“Chúng ta mong muốn đề án sớm được phê duyệt với tính khả thi cao và cách tổ chức, quản lý hiệu quả, đặc biệt ở cấp địa phương, để từng cơ sở giáo dục đạt được kết quả như mục tiêu đề ra”, Thứ trưởng Phạm Ngọc Thưởng nhấn mạnh.
Một hành trình 20 năm cần sự đồng thuận xã hội
Theo Bộ GD-ĐT, thành công của đề án không chỉ phụ thuộc vào chính sách hay nguồn lực, mà còn đòi hỏi sự đồng thuận xã hội cao, sự kiên trì và nhất quán trong suốt 20 năm triển khai.
Việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học không chỉ là một mục tiêu giáo dục, mà còn là bước chuyển chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam, mở rộng cơ hội hội nhập và phát triển bền vững trong kỷ nguyên toàn cầu hóa.